Cựu Thanh niên xung phong

Một thời hoa lửa

Lâm Đồng17/10/202611 ĐỊA 1 THPT CHUYÊN CHU VĂN AN (phường Tây Hồ)15 lượt xem0 lượt chia sẻ
Một thời hoa lửa

Mỗi độ tháng Tư về, những con đường Hà Nội lại trở nên tấp nập, rợp sắc đỏ của cờ Đảng, cờ Tổ quốc giữa nhịp sống thanh bình. Trong không khí ấy, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến ngày vui thống nhất của đất nước. Nhưng với những người đã đi qua chiến tranh, niềm vui ấy còn gắn liền với nỗi nhớ về những đồng chí, đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

Giữa những câu chuyện lịch sử hào hùng mà bi tráng một thời của dân tộc, tôi có dịp ngồi lại và lắng nghe tâm sự của ông ngoại tôi – cựu chiến binh Đỗ Nguyên Lượng. Với ông, hành trình đi đến mùa xuân toàn thắng năm 1975 luôn gắn với một dấu mốc không thể nào quên: Tết Mậu Thân năm 1968. Khi ấy, ông cùng đồng đội tiến công, đánh chiếm và giữ các cơ quan đầu não tại thị xã Quảng Ngãi giữa vòng vây và bom đạn ác liệt.



image.png

Ông Đỗ Nguyên Lượng, cựu chiến binh thuộc đơn vị chủ công E12, F3 Sao Vàng, Quân khu V


Nhắc lại những năm tháng ấy, giọng ông bỗng chậm lại, ánh mắt như hướng về một miền quá khứ xa xăm. Năm 1966, ông nhập ngũ khi mới mười chín tuổi – độ tuổi mà nhiều thanh niên hôm nay vẫn đang ngồi trên ghế nhà trường. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 Sao Vàng, thuộc lực lượng vũ trang Quân khu 5 và đảm nhiệm cương vị tiểu đội trưởng trong đơn vị chủ công. Từ một chàng trai trẻ còn nhiều bỡ ngỡ, ông nhanh chóng phải làm quen với những cuộc hành quân trong đêm, những cánh rừng sâu và sự khốc liệt của chiến trường.


Tết Mậu Thân năm 1968, đơn vị ông được giao nhiệm vụ tiến công vào thị xã Quảng Ngãi, đánh chiếm và giữ các cơ quan đầu não của đối phương. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong thế trận tiến công phối hợp của quân và dân ta trên chiến trường Quân khu 5. Trước giờ xuất trận, đơn vị đã tổ chức cho các chiến sĩ ăn Tết sớm tại căn cứ nằm sâu trong chiến khu. Bữa cơm được nhân dân và đơn vị chuẩn bị chu đáo nhưng diễn ra trong sự bí mật tuyệt đối. Giữa không khí Tết, những người lính vẫn khẩn trương kiểm tra vũ khí và hành trang. Không ai nói ra, nhưng có lẽ mỗi người đều hiểu rằng một trận chiến ác liệt đang chờ đợi phía trước và không phải ai cũng có thể trở về đón thêm một mùa xuân nữa.


Ngày Ba mươi Tết, đơn vị bắt đầu hành quân xuống đồng bằng. Những người lính đi trong đêm, giữ bí mật tuyệt đối, từng bước tiếp cận và áp sát thị xã Quảng Ngãi. Đại đội chủ công tham gia trận đánh khi ấy chỉ có khoảng sáu mươi cán bộ, chiến sĩ, ít hơn nhiều so với biên chế thông thường ở quân khu ngoài Bắc. Phía trước họ là hệ thống phòng thủ cùng lực lượng và phương tiện chiến tranh vượt trội của đối phương.


Khoảng hai giờ sáng, mệnh lệnh nổ súng được truyền xuống.


Nhờ hành quân bí mật trong đêm, các chiến sĩ nhanh chóng tiến công vào những vị trí đã được phân công. Tiếng súng AK, tiếng lựu đạn và thủ pháo đồng loạt vang lên, xé tan màn đêm yên tĩnh của ngày đầu năm mới. Bị đánh bất ngờ, quân địch ban đầu không kịp tổ chức chống trả. Các mũi tiến công của ta nhanh chóng đánh chiếm một số cơ quan chỉ huy và vị trí thông tin liên lạc quan trọng trong thị xã. Những người lính trẻ vừa chiến đấu vừa khẩn trương củng cố vị trí, sẵn sàng đối phó với các đợt phản kích. Họ hiểu rằng chiếm được mục tiêu mới chỉ là bước đầu; giữ được vị trí trước lực lượng đối phương đông hơn nhiều lần mới là thử thách khắc nghiệt nhất.


Sau cuộc tập kích bất ngờ của quân ta, quân địch nhanh chóng tập hợp và củng cố lực lượng. Những binh lính nghỉ phép trong dịp Tết được gọi trở lại; quân tiếp viện cùng xe tăng, xe bọc thép, pháo binh và máy bay được huy động để bao vây, tái chiếm những vị trí đã mất. Từ trên không, máy bay phản lực của quân địch liên tục quần thảo và bắn phá. Dưới mặt đất, các đợt phản kích nối tiếp nhau dồn về phía trận địa của quân ta.


Tương quan lực lượng ngày càng chênh lệch. Theo lời ông ngoại, có thời điểm mỗi chiến sĩ phải đối mặt với hàng chục quân địch. Trong khi đó, đơn vị không có lực lượng tiếp viện, đạn dược, lương thực và nước uống đều vơi dần sau mỗi đợt chiến đấu. Càng về sau, trận chiến càng trở nên dữ dội, ác liệt. Vòng vây của đối phương ngày một siết chặt, trong khi vũ khí và lương thực của đơn vị gần như cạn kiệt. Đứng trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, ông và đồng đội đều hiểu rằng khả năng hy sinh đã ở ngay trước mắt. Đó là khoảnh khắc mà suốt cuộc đời ông không thể nào quên được. Thế nhưng không một ai nghĩ đến việc đầu hàng.


“Nhờ có lòng tin và lý tưởng cách mạng mà các ông quên đi tất cả. Lúc ấy, mỗi người chỉ nghĩ đến nhiệm vụ được giao và quyết tâm phải hoàn thành”, ông nhớ lại.


Trong những giờ phút khốc liệt nhất, sức mạnh giúp những người lính đứng vững không chỉ đến từ ý chí chiến đấu mà còn được tạo nên bởi tình đồng chí, đồng đội. Họ che chắn, bảo vệ và sẵn sàng hi sinh vì nhau. Người còn khả năng chiến đấu tiếp tục cầm súng; người bị thương nhẹ giúp đỡ những đồng đội bị thương nặng. Giữa mưa bom, bão đạn, họ cùng nhau giữ từng vị trí vừa giành được.


Trong số những người đồng đội năm ấy, ông Lượng nhớ nhất đồng chí Bình, quê ở Thái Bình. Cũng như ông, chiến sĩ Bình là một người lính trẻ. Dù những ngày đầu vào chiến trường, anh còn có phần lóng ngóng, hồi hộp, nhưng khi trận đánh diễn ra, người chiến sĩ ấy lại trở nên vô cùng bình tĩnh và quả cảm. Trong một đợt phản kích dữ dội, ông Lượng bị thương ở đầu và ngực phải. Giữa làn đạn, đồng chí Bình vẫn dũng cảm vượt qua nguy hiểm để đến bên băng bó vết thương cho ông. Trong hoàn cảnh nước uống gần như không còn, Bình dành cho người đồng đội bị thương một nắp bi đông nước ít ỏi. Sau đó, anh lại tiếp tục cầm hỏa lực, vừa đánh trả quân địch, vừa bảo vệ ông và những đồng đội đang bị thương.


Chỉ một nắp bi đông nước giữa chiến trường, nhưng đối với ông Lượng, đó là biểu hiện sâu sắc của tình đồng đội. Khi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, những người lính vẫn dành cho nhau phần nước cuối cùng, vẫn sẵn sàng lao qua lửa đạn để cứu đồng đội. Mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ấy, ông Lượng đều xúc động: “ Ông rất biết ơn những chiến sĩ đồng đội đã anh dũng hy sinh để các ông được sống sót và tiếp tục chiến đấu bảo vệ đất nước…” Đến nay, ông vẫn nhớ tiếng bom, tiếng đạn, tiếng hò hét giữa vòng vây và hình ảnh những người chiến sĩ vừa chiến đấu vừa cố gắng bảo vệ nhau. Trong kí ức của ông, tình đồng chí không phải là điều gì xa xôi, lớn lao, mà hiện hữu trong một miếng băng buộc vội, một nắp nước nhỏ bé và một người lính lấy thân mình che chở cho đồng đội.


Suốt những ngày Tết Mậu Thân, đơn vị kiên cường bám trụ và chiến đấu trong điều kiện vô cùng ác liệt, lực lượng quân ta ngày càng bị thu hẹp. Khi nhận thấy lực lượng không còn đủ khả năng tiếp tục giữ vị trí, đơn vị được lệnh phá vòng vây, từ khoảng sáu mươi cán bộ, chiến sĩ ban đầu, cuối cùng chỉ còn khoảng mười hai người có thể rút khỏi trận địa. Trên đường rút ra khỏi chiến trường, ông cùng những người đồng đội tiếp tục đối mặt với sự tấn công dồn dập của đối phương. Quân địch tiếp tục sử dụng pháo binh và máy bay đánh phá những con đường có thể rút quân, đồng thời tổ chức truy kích nhằm tiêu diệt lực lượng ta. Ông Lượng khi ấy đang mang vết thương ở đầu và ngực phải nhưng vẫn phải cùng đồng đội tìm đường vượt qua vòng vây.


Nhờ sự dìu đỡ của những người còn sống và sự che chở, giúp đỡ của nhân dân địa phương, sau nhiều ngày gian nan, ông mới trở về được căn cứ. Ông là một trong số rất ít người may mắn sống sót. Phía sau sự trở về của mười hai người lính là sự hy sinh của biết bao đồng đội – những con người đã chiến đấu đến giây phút cuối cùng để bảo vệ nhau và hoàn thành nhiệm vụ. Sau một thời gian điều trị và dưỡng thương, ông Lượng tiếp tục cùng đơn vị hành quân về phía Nam. Tại khu vực Quy Nhơn, ông và đồng đội phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương ngăn chặn các cánh quân địch, góp phần bảo vệ lực lượng và giữ vững thế trận trên chiến trường Bình Định. Tuy nhiên, trong tất cả những trận đánh đã đi qua, kí ức về thị xã Quảng Ngãi trong những ngày Tết Mậu Thân vẫn là dấu ấn sâu đậm nhất đối với ông.


Qua những trận chiến ác liệt như vậy, được chiến đấu, đấu tranh giải phóng miền Nam bảo vệ tổ quốc, ông Lượng cảm thấy vô cùng tự hào, thanh thản vì mình đã đóng góp một phần thanh xuân của mình cống hiến cho đất nước. Cảm thấy xứng đáng, tự hào, thanh thản vì mình đã có những năm tháng cống hiến cho quê hương, cho đất nước, cho những ý tưởng vĩ đại của dân tộc. Nhưng bên cạnh với sự tự hào đầy kiêu hãnh ấy là những trăn trở, bứt rứt khôn nguôi của người cựu chiến binh khi bao nhiêu những người anh em, chiến sĩ đồng đội đã anh dũng hy sinh nhưng đến nay hài cốt vẫn còn nằm đâu đó ở các chiến trường, chưa được tìm thấy để về với quê hương.

Song niềm trăn trở ấy không chỉ của riêng ông mà còn là nỗi niềm đau đáu muốn tìm lại người thân của biết bao những gia đình trên dải đất hình chữ S. Bằng những nỗ lực ngày đêm không ngừng nghỉ cùng tinh thần “mệnh lệnh từ trái tim”, chiến dịch "500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" đã gặt hái nhiều thành tựu. Mới đây ngày 14/10/2026, lễ truy điệu 731 bộ hài cốt thương binh, liệt sĩ đã diễn ra tại công viên Lê Thị Riêng, phường Long Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Sự kiện thiêng liêng ấy không chỉ đánh dấu mốc thành công trong công cuộc miệt mài kiếm tìm của lực lượng quân dân mà còn là cơ hội để những gia đình nhận lại người thân, là dịp để những người chiến sĩ, cựu chiến binh tìm lại và bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến những người đồng đội đã anh dũng hy sinh. Chiến tranh đã qua 50 năm, ngày hôm nay các anh đã được trở về với quê hương, bên người thân.


Khi tôi hỏi ông còn giữ được kỷ vật nào từ những năm tháng ấy, ông lặng đi trong giây lát rồi khẽ lắc đầu. Những lá thư, chiếc khăn tay và cả những kỷ vật đồng đội gửi gắm trước lúc hi sinh đều đã thất lạc qua biết bao trận đánh và những cuộc hành quân liên miên.


“Đúng là chỉ có trải qua những trận chiến cam go lúc đó mới hiểu hết được những khó khăn, ác liệt và nỗi niềm của các ông. Những kí ức ấy bây giờ chỉ còn giữ được trong tâm khảm, tâm trí của mình thôi, chứ không thể lưu lại trên bất cứ kỉ vật nào”, ông nghẹn ngào nói.


Không còn một hiện vật nào được đặt trước mặt tôi, nhưng qua lời kể của người lính già, những ngày Tết Mậu Thân năm 1968 tại thị xã Quảng Ngãi vẫn hiện lên rõ ràng: tiếng bom đạn, vòng vây của quân địch, một nắp bi đông nước được sẻ chia và bóng dáng của những người đồng đội đã mãi mãi không trở về. Chiến dịch Mậu Thân 1968 ấy, quân ta đã đánh sập được những cái ý chí, mưu đồ chiến lược của quân đội Mỹ, đã đánh vào căn cứ chỉ huy của địch và tiêu diệt, tiêu hao một lực lượng rất quan trọng của quân đội Mỹ Ngụy nhưng cũng khiến không biết bao nhiêu người chiến sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh.


“Càng được sống trong độc lập, tự do, ông càng trân trọng và biết ơn những đồng chí, đồng đội, đồng bào yêu nước đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc”, ông Lượng nói.


Những lời nhắn gửi giản dị mà thấm thía ấy giúp tôi – một người trẻ hôm nay – hiểu rằng hòa bình không phải là điều tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng tuổi xuân, máu xương và sự hi sinh của biết bao thế hệ cha anh. Vì vậy, lòng biết ơn không nên chỉ được thể hiện trong những ngày lễ kỉ niệm mà cần trở thành những hành động cụ thể: biết trân trọng, gìn giữ cuộc sống hòa bình, không ngừng học tập, rèn luyện và sống có trách nhiệm để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn